Một số câu hỏi và trả lời liên quan tới bầu cử Đại biểu Quốc hội và HĐND các cấp
1. Việc ấn định số đơn vị bầu cử, danh sách các đơn vị bầu cử được tiến hành như thế nào?
Trả lời: Đối với bầu cử ĐBQH: Theo quy định tại Khoản 2 Điều 10 của Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND thì tỉnh, thành phố được chia thành các đơn vị bầu cử ĐBQH. Số đơn vị bầu cử, danh sách các đơn vị bầu cử và số lượng ĐBQH được bầu ở mỗi đơn vị bầu cử ĐBQH được tính căn cứ theo số dân, do Hội đồng Bầu cử quốc gia ấn định theo đề nghị của ủy ban bầu cử ở tỉnh, thành phố và được công bố chậm nhất là ngày 25/12/2025 (80 ngày trước ngày bầu cử).
Đối với bầu cử đại biểu HĐND: Theo quy định tại Khoản 3 Điều 10 của Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND thì số đơn vị bầu cử đại biểu HĐND cấp tỉnh, cấp xã, danh sách các đơn vị bầu cử và số lượng đại biểu được bầu ở mỗi đơn vị bầu cử do ủy ban bầu cử ở cấp đó ấn định theo đề nghị của UBND cùng cấp và được công bố chậm nhất là ngày 25/12/2025 (80 ngày trước ngày bầu cử).
2. Số đại biểu được bầu ở mỗi đơn vị bầu cử ĐBQH, đơn vị bầu cử đại biểu HĐND được quy định như thế nào?
Trả lời: Tại Khoản 4 Điều 10 của Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND quy định:
- Mỗi đơn vị bầu cử ĐBQH được bầu không quá 3 đại biểu.
- Mỗi đơn vị bầu cử đại biểu HĐND được bầu không quá 5 đại biểu.
3. Trách nhiệm của Thường trực HĐND các cấp đối với cuộc bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND được quy định như thế nào?
Trả lời: Theo quy định tại khoản 7 Điều 4 của Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND thì trong cuộc bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND các cấp, Thường trực HĐND có trách nhiệm dự kiến cơ cấu, thành phần, số lượng đại biểu HĐND của cấp mình. Thường trực HĐND các cấp, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, có trách nhiệm giám sát, kiểm tra và thực hiện công tác bầu cử theo quy định của Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan.
4.Trách nhiệm của UBND các cấp đối với cuộc bầu cử ĐBQH và bầu cử đại biểu HĐND các cấp được quy định như thế nào?
Trả lời: UBND các cấp, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, có trách nhiệm phối hợp, thống nhất với Thường trực HĐND, Ban Thường trực Ủy ban MTTQ Việt Nam cùng cấp thành lập các tổ chức phụ trách bầu cử ở địa phương.
Riêng UBND cấp xã còn có thêm một số trách nhiệm khác như xác định khu vực bỏ phiếu và báo cáo UBND cấp tỉnh (khoản 4 Điều 11 của Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND). UBND cấp xã lập danh sách cử tri theo khu vực bỏ phiếu.
UBND các cấp có trách nhiệm thường xuyên kiểm tra, đôn đốc và tổ chức triển khai công tác bầu cử theo quy định của Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan; thực hiện công tác thông tin, tuyên truyền, bảo đảm an ninh trật tự, an toàn cho cuộc bầu cử.
5. Thế nào là nguyên tắc bầu cử trực tiếp?
Trả lời: Bầu cử trực tiếp là việc cử tri trực tiếp đi bầu cử, tự bỏ lá phiếu của mình vào hòm phiếu để lựa chọn người đủ tín nhiệm vào cơ quan quyền lực nhà nước. Điều 69 của Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND quy định: Cử tri không được nhờ người khác bầu hộ, bầu thay hoặc bầu bằng cách gửi thư. Trường hợp cử tri không thể tự viết được phiếu bầu thì nhờ người khác viết hộ, nhưng phải tự mình bỏ phiếu; người viết hộ phải bảo đảm bí mật phiếu bầu của cử tri. Trường hợp cử tri vì khuyết tật không tự bỏ phiếu được thì nhờ người khác bỏ phiếu vào hòm phiếu.
Trong trường hợp cử tri ốm đau, già yếu, khuyết tật không thể đến phòng bỏ phiếu được thì tổ bầu cử mang hòm phiếu phụ và phiếu bầu đến chỗ ở, chỗ điều trị của cử tri để cử tri nhận phiếu bầu và thực hiện việc bầu cử. Đối với cử tri là người đang bị tạm giam, người đang chấp hành biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc mà trại tạm giam, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc không tổ chức khu vực bỏ phiếu riêng hoặc cử tri là người đang bị tạm giữ tại nhà tạm giữ thì tổ bầu cử mang hòm phiếu phụ và phiếu bầu đến trại tạm giam, nhà tạm giữ, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc để cử tri nhận phiếu bầu và thực hiện việc bầu cử.
Nguồn: Hội đồng bầu cử Quốc gia